VI
CVN Tours
VI

7 món ăn đặc sản đặc trưng Bắc Kạn lạ và hấp dẫn

Đăng ngày 07/02/2026 Admin
7 món ăn đặc sản đặc trưng Bắc Kạn lạ và hấp dẫn

Không chỉ sở hữu nhiều cảnh đẹp nên thơ trữ tình, Bắc Kạn còn là điểm du lịch hấp dẫn với văn hóa ẩm thực độc đáo, đậm đà hương vị núi rừng Tây Bắc. 7 món ăn đặc sản Bắc Kạn đặc trưng và hơi phần lạ lẫm dưới đây có thể du khách chưa từng nghe thấy, nhưng vô cùng thú vị và khiến cho mọi người muốn thưởng thức ngay.

1. Bánh trời - Pẻng phạ
Trong những dịp đặc biệt như lễ đón mừng năm mới, lễ hội ''lồng tồng'' (lễ xuống đồng) của người Tày sinh sống tại vùng Ba Bể - Bắc Kạn, mâm lễ cúng luôn được trân trọng, bày biện rất công phu với nhiều thứ mà một trong những thứ không thể thiếu là bánh pẻng phạ.

Do vậy hầu như nhà nào cũng làm món bánh này trong những dịp ăn mừng. Nguyên liệu chính để làm bánh là gạo nếp. Gạo nếp ngon, nhặt sạch thóc, sạn đem xay khô thật mịn tay làm bột nếp. Bột được nhào với nước chè mạn pha đặc để lấy màu nâu và vị chát rồi thêm một chút rượu trắng cho dậy mùi. Sau khi nhào thật kỹ cho bột dẻo và mịn có thể vê thành những viên cỡ quả nhãn. Vì bột nếp rất dính tay lại dễ bị chảy xệ nếu nặn xong mà không chế biến ngay nên người ta vừa nặn bánh vừa chuẩn bị đun một chảo mỡ nóng bên cạnh. Khi mỡ nóng già thả bánh vào rán cho nổi mỡ, vàng ruộm thì vớt ra để cho ráo mỡ, bánh rán hết mới bắt tay vào áo bánh. Đường được đổ vào xoong, châm thêm chút nước cho đường dễ tan chảy rồi đun sôi, thử độ kết đông của đường bằng cách nhỏ vài giọt nước lã vào thấy đường lăn thành giọt không bị hòa tan thì bắt đầu thả bánh vào cho ngập đường. Bánh vớt ra lăn ngay vào bột áo. Bột áo cũng được làm từ gạo nếp rang vàng rồi xay nhỏ mịn giống như làm thính, song khi rang non tay hơn bột thính một chút để bột có màu hơi ngà chứ không vàng thẫm.

 Bánh pẻng phạ bên trong dẻo, do tác động nhiệt lớn bột bánh bên trong chưa kịp ngấu nhiệt lớp bên ngoài đã cứng giòn nên bánh giống như có nhân ăn rất thú vị.

2. Bánh trứng kiến
Bánh trứng kiến  nguyên liệu gồm: Trứng kiến, bột gạo, lá non của cây vả.
Làm bánh trứng kiến việc vất vả nhất là đi lấy trứng kiến về để làm nhân bánh. Trước hôm làm bánh người ta vào rừng tìm trứng kiến. Loại kiến đen có thân nhỏ, đuôi nhọn, đi lại khá nhanh và thường làm tổ trên cây vầu. Tổ của chúng màu đen, hình tròn hoặc hình bầu dục được làm từ lá cây mục và kết chặt vào những cành cây. Kiến cho trứng lành, cắn không đau và không độc như các loài kiến khác. Dùng dao chặt cành cây có tổ kiến đặt vào chậu hay rá rổ đan dày. Phá tổ, kiến bố mẹ sẽ nhanh chóng bỏ đi, để lại trứng. Dùng tay vỗ tổ kiến cho trứng kiến rụng ra. Tổ kiến to có thể bằng cái mũ. Để kiến bỏ đi nhanh và không tha theo trứng người Tày thường cho thêm mấy cành cây nhỏ vào chậu. Trứng kiến thực chất là ấu trùng kiến, chính vì vậy mà tỷ lệ đạm rất cao, nhiều chất bổ, tuy nhiên một số người ăn có thể bị dị ứng. Một người vỗ trứng kiến một buổi có thể được một vài cân.

Vỏ bánh thì đơn giản hơn rất nhiều, gạo nếp được xay cho nhuyễn và cô thành bột dẻo, những người có kinh nghiệm khi làm bánh trứng kiến thường pha một tỷ lệ nhất định bột gạo tẻ vào chung với bột nếp, chất lượng bánh sẽ ngon hơn. Bên ngoài bọc những chiếc lá vả xanh non để làm áo cho những chiếc bánh.
Để làm nhân bánh người ta phi thơm hành rồi cho trứng kiến vào rang cho thơm phức và béo ngậy, việc này cũng phải hết sức khéo léo vì nếu quá lửa trứng sẽ cháy nát hết. Sau khi nhân bánh được chuẩn bị xong người ta sẽ tiến hành làm bánh. Bột gạo được dát mỏng vừa phải, dày cỡ nửa phân rồi áp vào lá vả non. Tiếp đến là cho trứng kiến đã xào rải đều trên mặt miếng bột, sau đó gói miếng bột vào để bọc lấy nhân bánh, để bánh được đẹp hơn người ta cố gắng thật khéo tay để bánh được vuông vức. Cuối cùng là bọc bên ngoài một lớp lá vả bánh tẻ rồi cho vào nồi đồ như đồ xôi độ 30 phút là chín. Theo bà con người Tày đối với bánh trứng kiến không thể thay lá vả bằng loại lá khác. Khi ăn cũng đừng tìm cách bóc tách lớp lá vả non bên trong đi bởi phải ăn cả lớp lá này thì bánh mới bùi và ngon hơn rất nhiều, mà có muốn bóc cũng rất khó bởi lá vả non sau khi được hấp chín đã dính chặt vào bánh.
Bánh trứng kiến là một trong những món ẩm thực mang giá trị văn hoá của đồng bào dân tộc Tày. Ăn miếng bánh trứng kiến có đủ hương vị của rừng, đồng quê, đậm đà của muối biển, hơn thế người thưởng thức còn thấy hết mọi vị béo bùi, thơm ngon của bánh mà ít có thứ bánh khác ngon bằng./.

Tham khảo ngay tour Ba Bể 2 ngày 1 đêm


3. Bánh Ngải của người Tày
Mỗi dân tộc đều sáng tạo ra những loại bánh có hương vị khác nhau, có một loại bánh mà chỉ người Tày mới có đó là bánh ngải. Bánh ngải có màu xanh đặc trưng của thiên nhiên, hình thù và cách làm gần giống với bánh dày của người miền xuôi.
Làm bánh ngải không khó nhưng lại đòi hỏi sự công phu và khéo léo từ khâu chọn gạo, đường, rau ngải cho đến khâu ra bánh.

Bánh ngải kén gạo vì thế không phải loại gạo bất kỳ nào cũng làm được bánh. Muốn bánh thơm, dẻo phải chọn loại nếp nương và không được lẫn dù chỉ một hạt gạo tẻ. Đường để làm nhân bánh cũng phải lựa chọn rất cẩn thận, phải chọn đường phên (một loại đường thẻ, miếng to chừng bàn tay) có màu vàng, ngọt và không có sạn.
Lá ngải được rửa sạch, đun trong nước tro bếp từ 2 đến 3 giờ. Để có nước tro tốt, người ta chọn tro sạch, tốt nhất là tro tre nứa, hoặc tro vỏ đậu xanh. Tro sạch được lèn vào rá tre, để rá trên chậu tạo khoảng cách cho nước từ rá chảy xuống. Người ta đổ nước từ từ vào tro cho ngấm dần rồi chảy xuống chậu. Nước tro lúc đầu đặc có màu cà phê, sau loãng dần. Lá ngải đun trong nước tro rất chóng nhừ. Sau khi đun nhừ, đổ lá ngải ra rá, rửa nhiều lần cho sạch nước tro, nhặt bỏ sơ (gân lá, cuống lá già), vắt kiệt nước rồi nắm thành từng nắm bằng nắm tay.
Gạo làm bánh được ngâm từ tối hôm trước rồi đem đồ chín thành xôi vừa độ dẻo. Trong quá trình đồ, khi lên hơi, người ta thường tưới thêm lần nước để khi giã bánh sẽ dẻo hơn.  
Trong quá trình chờ xôi chín sẽ chuẩn bị nhân bánh, người ta đun đường phên lên thành mật sau đó trộn mật với vừng đen rang chín giã nhỏ. Nhân bánh chính là bí quyết tạo ra hương vị thơm ngon cho chiếc bánh.
Xôi đồ chín phải giã ngay lúc còn nóng cùng với những nắm lá ngải để bánh mềm, mịn và dẻo. Sau khi xôi được giã nhuyễn, các bà, các mẹ sẽ nhanh tay múc ra mâm để nặn bánh. Bánh được nặn thành hình tròn sau đó ấn dẹt ra, cho thìa nhân vào giữa, rồi gói vỏ bánh lại bọc kín lớp nhân bên trong thành hình như chiếc bánh dày là được. Cố gắng khéo léo để nhân không bị trào ra ngoài vỏ bánh. Mỗi chiếc bánh nóng hổi được đặt trên một khoanh lá chuối tròn nhỏ bằng chiếc bánh để chúng không dính vào nhau. Sau đó gói chung khoảng 10 cái bánh nhỏ vào một lớp lá chuối để giữ bánh được lâu hơn.

Bánh ngải là thứ bánh rất dễ ăn, mát và không ngấy, nếu ai đã từng ăn một lần sẽ không quên mùi vị của loại bánh dân dã này. Vị hăng hăng, thơm thơm là lạ của lá ngải như dung hòa cái dẻo, cái ngọt của nếp, của đường, miếng bánh có sự tươi non của đồi nương, cái hoang dã của lá rừng như gói cả mùa xuân trong mát.
Bánh ngải trước đây chỉ được làm trong các dịp mừng lúa mới hay các ngày lễ tết của người Tày. Tuy nhiên, do cơ chế thị trường hiện nay bánh ngải được làm nhiều và bày bán một cách rộng rãi hơn.   


4. Bánh Coóc Mò
Coóc mò cũng là một loại bánh được bà con các dân tộc Bắc Kạn hay làm hơn cả. Mới nhìn qua nhiều người nhầm là bánh gio vì hình thức bánh coóc mò cũng giống như vậy .

Bánh cũng được gói theo hình chóp nhưng lá gói bánh lại là lá chuối . Bánh coóc mò ăn có vị đậm và thơm bởi được làm từ gạo nếp nương và lạc nhân đỏ . Ăn không ngán vì dễ ăn và mùi vị hợp với nhiều người, bánh coóc mò rất hợp với những bữa điểm tâm buổi sáng. Bóc chiếc bánh xanh rền, ăn dẻo, thơm bạn mới thấy hết ý nghĩa của món bánh này. Nếu ghé Bắc Kạn bạn đừng quên thưởng thức món ăn giản dị mà hấp dẫn này nhé./.

5. Chè con ong
Chè con ong là món ăn quen thuộc của người Việt nhưng tại Bắc Kạn lại mang những nét đặc trưng riêng.
Chè con ong là một loại ẩm thực có giá trị dinh dưỡng, mang tính tâm linh, tín ngưỡng từ rất lâu, được truyền từ đời này sang đời khác. Với  quan niệm, ngày 5 tháng 5 âm lịch là ngày đầu mùa sinh nở của các loài sâu bọ đã phá hoại mùa màng. Khi người ta trồng cấy các loài cây lương thực hay cây ăn quả, cứ ra được hoa, kết được trái lại bị các loại côn trùng có hại đục phá, nhất là loài ong. Vì vậy vào mùng 5 tháng 5 âm (Tết đoan ngọ) hàng năm, người dân Bắc Kạn lại bày lên bàn thờ tổ tiên các loại hoa quả đang mùa và đặc biệt không thể thiếu được là món chè con ong. Ngày nay, chè con ong không chỉ được làm vào ngày 5 tháng 5 âm, mà còn làm vào ngày 30 Tết Nguyên đán.
Quá trình chế biến chè con ong cần chọn những nguyên liệu là: Gạo nếp ngon; đường phên; vừng hạt; đậu xanh; bột sắn dây; gừng già. Gạo nếp được đồ chín thành xôi, đổ ra nong, nia cho nguội. Cho bột sắn dây, đường, mật ong hòa tan, nước gừng vắt và cho vào nồi đun, khuấy đều tay, đến khi bột chín và sánh lại thì cho xôi vào tiếp tục đun và đánh rời hạt xôi, không cho nát, múc lên bát và rắc đậu xanh, vừng  rang chín.
Chè con ong có hương vị rất đặc trưng: Vị dẻo của gạo nếp, ngọt của đường thơm, mát dịu của bột sắn dây, nồng ấm của gừng. Trong ngày Tết Đoan ngọ, những hạt xôi dẻo mềm của món chè con ong tượng trưng cho nhộng ong, người ta ăn hết đi thì loài sâu bọ không còn sinh sôi, nảy nở để phá hoại mùa màng được nữa. Ngoài ý nghĩa đó, sự hòa quện của các hương vị trong chè còn tượng trưng cho sự xum họp đông đúc, đùm bọc lẫn nhau của con cháu trong ngày tất niên, trong phút giao thừa./.

6. Mèn mén
Mỗi dân tộc đều có những món ăn đặc sắc, mang đậm nét truyền thống của dân tộc mình. Khi nhắc tới những đặc sản truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, không thể không kể tới món “Mèn mén”.
Đồng bào dân tộc Mông là một trong những dân tộc thiểu số sống ở vùng núi cao vì thế cây ngô là cây lương thực chính. Trước đây, khi cuộc sống còn nhiều khó khăn Mèn mén là món ăn chính trong bữa ăn hàng ngày của người Mông.
Mèn mén được làm từ hạt ngô tẻ. Món Mèn mén đòi hỏi tốn nhiều thời gian để thực hiện với các công đoạn: Bóc vỏ, tách hạt ra khỏi lõi ngô, xay hạt ngô thành bột và sàng bỏ bớt vỏ. Sau khi có bột ngô vừa ý, người làm trộn bột ngô với nước rồi đảo để bột ngô tơi ra, sau đó đổ vào chõ và cho vừa nước đủ để đồ; khi bắc chõ khỏi bếp thì đổ bột ngô ra mẹt, dùng thìa gỗ đảo đi, đảo lại cho bột ngô tơi ra. Để có được món Mèn mén, người làm phải đồ bột ngô hai lần trên chõ gỗ.
Mèn mén khi đã chín có vị thơm, dẻo, rất đậm đà. Ăn mèn mén bao giờ cũng kèm thêm một bát canh. Người Mông thường ăn món này với canh bí để tăng thêm phần hấp dẫn cho món ăn.
Ngày nay, khi cuộc sống của người Mông đã đầy đủ hơn, món Mèn mén đã không còn là món ăn chính trong bữa ăn hàng ngày nhưng mỗi dịp lễ tết, hội hè…vẫn không thể thiếu món ăn truyền thống Mèn mén./.

7. Xôi “Đăm Đeng”
Xôi Đăm Đeng là món ăn đặc sắc của người dân miền núi phía Bắc từ bao đời nay. Xôi Đăm Đeng thường có trong những phiên chợ, ngày cưới hay dịp lễ, tết của người dân tộc miền núi phía Bắc, đặc biệt là vào dịp tết thanh minh (3/3 âm lịch).
Món xôi này rất độc đáo vì được nấu từ gạo nếp nương và tất cả màu sắc của xôi không tạo ra bằng phẩm màu mà bằng hương sắc của cây cỏ.
Người ta lấy lá của cây cẩm và vài loại lá khác đun lên, chắt nước ra, ngâm gạo nếp vào khoảng vài giờ rồi mang đồ trên chõ gỗ. Nước ngâm gạo phải nóng già thì khi chín xôi mới có độ dẻo.
Xôi Đăm Đeng có một mùi thơm đặc trưng của cây cỏ, không thể lẫn với bất cứ loại xôi nào khác. Hạt xôi bóng đẹp nhưng không ướt, khi nguội hạt xôi se lại nhưng vẫn mềm, dẻo và thơm.
Xôi Đăm Đeng thường được ăn với muối vừng hoặc ruốc tùy theo khẩu vị từng người. Người dân miền núi quan niệm rằng ăn xôi này sẽ mang lại nhiều may mắn và tốt lành.
Nếu có dịp lên Bắc Kạn vào những ngày lễ, tết hãy thưởng thức món xôi “Đăm Đeng” để tận hưởng hương sắc của núi rừng nơi đây.



A

Admin

CVN Tours

Zalo
Call
Zalo
Zalo